Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

Tính cách Nga thể hiện qua truyện ngắn “Số phận con người”

A.Giới thiệu chung
I. Khái quát
1.Tác giả
                  a. Cuộc đời
                  b. Sự nghiệp sáng tác
             2. Tác phẩm
 a. Hoàn cảnh sáng tác
 b. Tóm tắt tác phẩm
II.Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện
1.Tình huống truyện là gì?
2.Tình huống truyện trong “Số phận con người”
a.     Tình huống truyện lịch sử
b.     Tình huống đời thường
     III.Tính cách Nga thể hiện qua truyện ngắn “Số phận con người”
     IV. Tổng kết
     V. Tài liệu tham khảo

==========================================
B. Bài làm chi tiết
I. Khái quát
1.Tác giả
a) Cuộc đời
- Mi-khai-in A-lếch-xan-đrô-vích Sô-lô-khốp (1905-1984) là cây bút tiểu thuyết và truyện ngắn xuất sắc trong văn học Nga thế kỉ XX.
- Sô-lô-khốp sinh ra tại thị trấn Vi-ô-sen-xcai-a, tỉnh Rô-xtốp trên vùng thảo nguyên Sông Đông. Cha của ông (mất năm 1925), tuy phải làm nhiều nghề vất vả kiếm sống nhưng cũng có một trình độ học vấn.Mẹ của Sô-lô-khốp là một người phụ nữ nông dân Cô-dắc, tuy không được học hành nhưng bà lại có tài kể chuyện dân gian và hát dân ca.
- Ông tham gia công tác cách mạng từ khá sớm (thư kí ủy ban trấn, nhân viên thu mua lương thực,…). Cuối năm 1922 ông đến Mát-xcơ-va, làm nhiều nghề để kiếm sống như:đập đá, khuân vác, kế toán. Thời gian rảnh rỗi, ông dành cả cho việc tự học và đọc văn học.
- Năm 1925 ông trở về sông Đông bắt đầu viết “Sông Đông êm đềm”, cuốn tiểu thuyết lớn nhất của đời mình.
- Năm 1932 là Đảng viên Đảng cộng sản Liên Xô.
- Năm 1939 ông được bầu làm viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô.
- Trong thời kì chiến tranh vệ quốc (1941- 1945) chống phát xít Đức xâm lược, ông theo sát Hồng quân trên nhiều chiến trường với tư cách phóng viên báo Sự thật.Sô­lô­khốp viết nhiều bài chính luận, bài kí, truyện ngắn nổi tiếng.
- Sau chiến tranh ông vẫn chủ yếu tập trung vào sáng tác văn học. Năm 1965, ông được tặngGiải thưởng Nô­ben về văn học.
b) Sự nghiệp sáng tác
- Với khả năng kết hợp tính bi kịch với tính sử thi , ông có những đóng góp lớn lao đối với văn học thế giới hiện đại. Sô-lô-khốp đã vinh dự nhận Giải thưởng Nô-ben về văn học năm 1965.Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, trong đó bao gồm cả tiếng Việt và có ảnh hưởng lớn đến sáng tác của nhiều nhà văn Việt Nam sau 1954 như Bùi Hiển, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, …
- Tác phẩm chính:
           + Năm 1926, ở tuổi 21, ông đã in hai tập truyện ngắn là “Truyện sông Đông”và“Thảo nguyên xanh”.
+ “Sông Đông êm đềm”_Bộ tiểu thuyết đã khẳng định vị trí của Sô-lô-khốp trên văn đàn Nga và được nhận Giải thưởng Quốc gia năm 1941. Nhà văn lão thành A. Xê-ra-phi-mô-vích vui mừng chào đón tài năng trẻ Sô-lô-khốp: “… con đại bàng non tung cánh trong bầu trời văn học”. Sô-lô-khốp với tất cả những gì đã cống hiến cho văn học Nga và thế giới sẽ mãi là niềm tự hào, niềm kiêu hãnh của nhân dân Nga.
+ Ngoài ra ông còn có tiểu thuyết “Đất vỡ hoang”, “Họ chiến đấu vì tổ quốc” và nhiều bài ký, chính luận, truyện ngắn nổi tiếng khác
+ Truyện ngắn “Số phận con người” (1957) là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Sô-lô-khốp, là cột mốc quan trọng mở ra chân trời mới cho văn học Nga.
ð Tác phẩm của ông phản ánh chân thực cuộc sống và con người Nga với những nét tính cách điển hình trong cả thời chiến và thời bình.
2. Tác phẩmSố phận con người
a) Hoàn cảnh sáng tác
     Vào mùa xuân năm 1946, mùa xuân đầu tiên sau chiến tranh, trong một chuyến công tác qua thôn Vokholovsky thuộc trấn Elanskaya, tại một bến phà, Sô-lô-khốp làm quen với một người lái xe đi cùng một cậu bé. Người lái xe kể cho nhà văn nghe về cuộc đời chìm nổi của mình. Câu chuyện đặc biệt làm cho nhà văn xúc động và dự định sẽ viết về người lái xe ấy. Tuy nhiên, phải mười năm sau ý tưởng ấy mới trở thành hiện thực.
Sô-lô-khốp đã phải nghiền ngẫm rất lâu để cuối cùng có thể đặt bút viết liền một mạch và hoàn thành truyện ngắn chỉ trong mười mấy ngày cuối năm 1956.Truyện ngắn Số phận con người được in trên báo Sự thật vào số ra ngày 31/12/1956 và ngày 1/1/1957.
b) Tóm tắt tác phẩm
Mùa xuân năm 1946, trên đường đi công tác, tác giả gặp anh lái xeAnđrây Xôcôlôpbốn mươi sáu tuổi và bé Va-ni-a chừng năm, sáu tuổi trên bến đò. Trong khi chờ đò, Xô-cô-lốp kể cho tác giả nghe về cuộc đời mình.Thời nội chiến anh phục vụ trong Hồng quân.Nội chiến kết thúc, anh trở về quê hương thì cha mẹ, anh chị không còn ai sống sót.Xô-cô-lốp từng làm nhiều nghề để kiếm sống. Rồi anh cũng có một mái ấm gia đình: vợ hiền, ba đứa con ngoan, học giỏi. Chiến tranh thế giới hai bùng nổ, anh ra trận.Chiến đấu chừng một năm, anh bị thương hai lần và bị bắt làm tù binh và hai năm bị đọa đày trong các trại tập trung của phát xít Đức. Năm 1944, bọn phát xít thua to trên mặt trận Xô-Đức, buộc phải dung cả tù binh làm lái xe. Nhân cơ hội đó, Xô-cô-lốp đã cướp xe, bắt sống tên sĩ quan Đức, chạy thoát trở về với Hồng quân.Mãi lúc ấy, anh nhận được tin vợ và hai con gáiđã bị bom phát xít giết hại từ giữa năm 1942.Niềm hi vọng duy nhất của anh giờ đây chỉ còn là đứa con trai A-na-tô-li giờ là đại úy pháo binh.Hai cha con cùng tiến đánh Béc-lin, sào huyệt của bọn phát xít. Đúng ngày 9/5/1945, ngày chiến thắng, một tên thiện xạ Đức đã bắn chết A-na-tô-li, đứa con trai yêu quý, niềm hy vọng cuối cùng của Xô-cô-lốp.Chiến tranh kết thúc, anh giải ngũ đến quê hương của một người bạn sinh sống và làm nghề lái xe tải. Tại đây anh gặp bé Va­-ni­-a, một chú bé cả cha lẫn mẹ đều chết trong chiến tranh. Anh nhận bé làm con nuôi, trái tim anh đã ấm lại phần nào. Trong đời thường anh gặp phải rủi ro và bị tước bằng lái xe. Nỗi đau mất mát trong chiến tranh vẫn luôn ám ảnh anh. Hai cha con anh, phải thay đổi chỗ ở, đến Ka-­sa-­rư để tìm cuộc sống mới. Anh luôn giấu mọi nỗi đau để đem lại niềm vui cho Vania.
III. Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện:
1.     Tình huống truyện là gì?
 Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng nói rằng: “Tình huống truyện giống như cái lát cắt ngang thân cây mà qua đó ta thấy được cả trăm năm của cuộc đời thảo mộc bởi đó là cái khoảnh khắc mà sự sống hiện ra đậm đặc nhất. Cái khoảnh khắc chứa đựng cả đời người”. Tình huống truyện hiểu một cách đơn giản là tình thế xảy ra truyện. Cụ thể tình huống truyện là những hoàn cảnh hiện thực có vấn đề, chứa đựng trong bản thân nó sự mâu thuẫn, xung đột … có tác động trực tiếp vào nhân vật buộc nhân vật phải lựa chọn, quyết định hành động.Từ đó, tính cách nhân vật được bộc lộ rõ nét.
2.     Tình huống truyện trong Số phận con người
Một trong những yếu tố tạo nên thành công của tác phẩm “Số phận conngười” không thể không kể đến nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, Sôlôkhôp đã xây dựng nên một hệ thống tình huống thử thách hết sức phong phú, đa dạng. Thông qua tình huống truyện, tính cách nhân vật Xô-cô-lôp được hình thành , phát triển và bộc lộ một cách rõ nét.
a)     Tình huống truyện lịch sử
Bao trùm lên tác phẩm là tình huống lịch sử. Truyện kể lại quãng đời gần năm mươi năm của A. Xô-cô-lôp gắn liền với những biến cố dữ dội trong lịch sử nước Nga đó là cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Nga trong chiến tranh thế giới hai chống phát xít Đức do Hitle cầm đầu. Đặt nhân vật vào tình huống lịch sử này, tác giả đã xây dựng được một hình tượng có tính khái quát cao, đặc trưng cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức mạnh tinh thần ghê gớm của người Nga. Và những tình huống chiến tranh là hiện thực hóa của tình huống truyện lịch sử, nằm trong tình huống truyện lịch sử.
Mở đầu, tác giả đã đặt A. Xô-cô-lôp vào một tình thế hết sức éo le. Một con người đang sống hạnh phúc, yên ấm bên vợ hiền và ba đứa con ngoan ngoãn, học giỏi. Bỗng chốc chiến tranh nổ ra, anh phải chấp nhận lìa xa tất cả, tự giác bước vào cuộc chiến một cách dứt khóat mặc dù rất đau đớn giữa bao sự giằng xé, níu kéo: những giọt nước mắt của các con, sự đau khổ về sự chia lìa vĩnh viễn của vợ. Trước tình huống đó, nhân vật quyết định một cách dứt khóat, kiên quyết như không thể chậm trễ hơn: “Thế rồi chiến tranh nổ ra. Ngày hôm sau, tôi nhận giấy triệu tập của hội đồng đăng kí quân sự, rồi ngày thứ ba lên tàu”. Qua đó, ta thấy được con người đầy ý thức trách nhiệm đối với Tổ Quốc, với vận mệnh của dân tộc của Xôkôlôp.
Trong chiến tranh, Xôkôlôp phải đối mặt với bao khó khăn, nguy hiểm khốc liệt và có khi phải đối mặt với cái chết nhưng vẫn hiên ngang, bất khuất. Tình huống đầu tiên Xôkôlôp đối mặt với cái chết là vào tháng 5/1942, Xôkôlốp phải chở đạn tiếp viện cho đồng đội trong tình thế quân Đức tấn công dữ dội mà các đồng chí của anh hết đạn, phải chiến đấu bằng tay không. Chiến trận hết sức căng thẳng: “Bên trái xe tăng gầm ầm ĩ... bên phải súng râm ran…phía trước cũng súng và bắt đầu thấy mùi khét”, “ cả bên trái lẫn bên phải con đường đất, bộ binh ta chạy giữa cánh đồng trơ trụi mà đạn cối của địch đã nổ vào giữa hàng ngũ của họ rồi”.  Tình thế đó, lao vào trận địa tức là phải đối mặt với cái chết. Vậy mà khi nghe đồng chí chỉ huy hỏi: “Vượt qua chứ Xôkôlôp?”. Anh đáp ngay không một chút do dự: “Tôi phải vượt qua chứ, yên trí”. Rồi Xôkôlôp laovào trận địa, cả đời anh chưa bao giờ phóng nhanh như lần này. Chính sự lo lắng cho đồng đội đã thôi thúc anh lao vào nguy hiểm , không màng đến bản thân. Tình huống này cho chúng ta thấy sự dũng cảm và tình đồng chí đồng đội gắn bó.
Tiếp theo, trong lần tiếp viện không thành công đó, trên đường đi tiếp viện, anh bị thương ngất đi, toàn thân run rẩy, vai trẹo xương. Nhưng khi tỉnh lại, anh vẫn cố gắng gượng đứng dậy một cách chật vật “lảo đảo vật vờ như cây dương trong bão tố”.Anh sợ mình nằm xuống thì sẽ không thể đứng dậy được nữa.Sau đó, anh phải đối mặt trực diện với kẻ thù. Có sáu thằng mang tiểu liên đi đến, có một thằng nhấc giương súng lên. Xôkôlôp nghĩ rằng mình sẽ chết: “Thế là cái chết đang đến với mình đây”. Anh đối mặt với cái chết không được báo trước một cách thản nhiên đến lạ lùng: “Con người nghĩ cũng buồn cười, trong giây phút ấy tôi không hề hoảng hốt, không hề sợ sệt chút nào” hay “ Cứ như là nó chọc thủng chỗ nào người tôi vào chỗ nào thì cũng chẳng có gì là quan trọng”. Anh không hề run sợ trước cái chết, trước kẻ thù gian ác. Anh nhìn thẳng vào mặt thằng cầm súng, im lặng đón chờ cái chết.
Nhưng anh không bị bắn mà bị bắt  làm tù binh. Bắt đầu từ lúc đó, ý định trở về với Hồng quân luôn thường trực trong anh. Nhưng cho đến tận Pôgiơnan, anh mới có một cơ hội bỏ trốn trong hoàn cảnh hết sức nghiệt ngã: bản thân Xôkôlôp “gầy nhom” chạy liền một ngày đêm gần bốn chục cây số. Anh đã chạy bằng tất cả sức lực và tình yêu quê hương đất nước, muốn trở về bên Hồng quân.Đến nỗi chính anh cũng không hiểu “hơi sức đâu” mà anh có thể chạy được như thế.Nhưng đến ngày thứ tư thì anh bị bắt lại và bị bọn lính nện cho một trận thỏa thuê sau đó chúng còn cho chó xô tới bứt hết quần áo, cắn anh đến nỗi “da thịt anh tơi bời từng mảnh”.Cuối cùng chúng dẫn anh về trại trong tình trạng “thân thể trần truồng và bê bết máu”.
Tình huống cam go nhất là tình huống anh phải đón nhận cái chết được dự báo trước của kẻ thù sừng sở và gian ác nhất Muynlơ. Nhưng thái độ thản nhiên của Xôkôlôp trước cái chết đã lái câu chuyện sang một hướng khác. Nhằm mục đích xúc phạm vào ý thức tự tôn dân tộc của anh, đánh vào đòn tâm lí đói khát của tù binh. Hắn đã rót một cốc rượu với một lát bánh mì và mỡ đưa cho anh và bảo Xôkôlôp hãy uống mừng chiến thắng của quân Đức. Khi thấy bàn thức ăn trong phòng tên chỉ huy Đức, ruột anh quặn lên, anh đã phải lấy hết gân sức mới bắt cặp mắt rời khỏi cái bàn . Nhưng nghe những lời mỉa mai của hắn, uống để mừng chiến công của kẻ thù, anh quyết từ chối ăn uống. Thế nhưng khi thằng chỉ huy bảo anh uống mừng cái chết của mình thì anh trả lời ngay: “Uống mừng cái chết của mình, được thoát khỏi mọi đau khổ thì tôi sẽ cạn cốc”. Nói rồi anh cầm cốc nốc hai hơi cạn sạch rồi lịch sự chùi mép, quyết không động đến miếng bánh no nào.Cứ như thế cho đến khi cạn cốc thứ ba trước lời mời đầy thách thức của tên chỉ huy, Xôkôlôp cũng chỉ cắn một mẩu bánh mì rồi đặt phần còn lại lên bàn.Bản lĩnh kiên cường, khí phách hiên ngang, lòng tự tôn dân tộc của nhân vật đại diện cho con người Nga được khắc họa đậm nét qua tình huống truyện này.
Một tình huống truyện mà nhà văn tạo ra cho nhân vật đó là việc Xôkôlôp trốn thoát thành công bằng sự thông minh, cẩn trọng và một kế hoạch, bất chấp nguy hiểm chu đáo về đằng mình và còn bắt sống thằng trung tá công binh mà cái cặp của hắn theo đánh giá của bộ chỉ huy Hồng quân “còn quý giá hơn hai chục cái lưỡi”.
Qua những tình huống đầy khó khăn, nguy hiểm liên tiếp trong chiến tranh đã làm nổi bật lên hình ảnh người lính Hồng quân gan dạ, dũng cảm , kiên cường, bất khuất, giàu lòng yêu quê hương, đất nước, khát khao lập chiến công để làm cống hiến cho nhân dân, cho Tổ Quốc.
Trong chiến tranh, con người không chỉ phải đối mặt với mưa bom, bão đạn, với cái chết luôn luôn rình rập … mà con người phải đối mặt với sự chia lìa vĩnh viễn những người thân của mình . Và cũng giống như bao con người khác, Xôkôlôp cũng rơi vào hoàn cảnh đó.
Trở về với đồng đội, anh rất vui mừng nhưng lòng anh không nguôi nghĩ về gia đình. Trong lúc nghỉ ngơi, anh đã tranh thủ viết thư ngay về nhà vì nôn nóng muốn biết tin tức. Ban đầu còn bình thản nhưng sau hai tuần lễ chờ đợi thì anh đâm buồn phiền, lo lắng, chẳng thiết ăn uống. Đến tuần lễ thứ ba thì anh nhận được thư của người hàng xóm báo rằng: hai năm trước một quả bom rơi trúng ngôi nhà của anh. Không còn dấu vết gì của vợ và hai con gái, ngôi nhà cũ chỉ còn một lỗ sâu hoắm… Đau khổ làm tim anh thắt lại. Anh ngỡ: “cuộc đời mình là một giấc mộng ngang trái”. Những tưởng đây sẽ là nỗi đau lớn nhất mà Xôkôlốp phải gánh chịu.Nhưng không phải vậy, nhà văn lại đặt nhân vật của mình vào một tình huống hết sức ngang trái. Người con trai tài giỏi, niềm hi vọng cuối cùng của anh đã bị một thằng thiện xạ Đức giết chết vào ngày chiến thắng 9/5 quân phát xít. Ngày mà Xôkôlôp mong chờ sẽ được gặp lại Anatôni.Đặt nhân vật vào sự tột cùng của đau thương, mất mát, tác giả đã xây dụng tình huống truyện sức éo le nhưng cũng rất chân thực vì đó là quy luật của cuộc chiến.Nhân vật đứng trước thử thách ghê gớm nhưng không làm anh gục ngã mặc dù phải gánh chịu nỗi đau đến suốt cuộc đời. Với tình huống truyện này, đã làm sáng ngời lên vẻ đẹp bi tráng, hào hùng của nhân vật.
b)    Tình huống đời thường
Không chỉ đặt nhân vật trong những tình huống lịch sử, Sô-lô-khốp còn đặt nhân vật vào những tình huống đời thường. Nhờ đó mà hình tượng người anh hùng Xôkôlôp hiện lên rất chân thực, sống động và gần gũi.
Trước chiến tranh, tác giả chủ yếu khai thác mối quan hệ giữa Xôkôlôp và Irina một người mà anh cho rằng “nhu mì, vui vẻ,ân cần, niềm nở và thông minh”.Trước cách hành xử của Irina khi chồng gắt gỏng, thô lỗ hay uống rượu say đã thức tỉnh , giúp anh vượt qua mọi cám dỗ của tuổi trẻ và trở thành một người đàn ông có trách nhiệm với gia đình. Và tình huống vô tình xô vợ trong ngày tiễn biệt và hét lên: “Tiễn biệt mà như thế à? Sao mà chôn sống người ta sớm thế” . Đã khiến anh ân hận cả đời. Đặt nhân vật trong tình huống với vợ, con tác giả đã làm nổi bật lên một Xôkôlốp chứa chan tình cảm, một con người rất đời thực, gần gũi.
Sau chiến tranh, có hai tình huống quan trọng đã khắc họa rõ nét nhân vật. Đó là nhà văn đã tạo ra một cuộc gặp gỡ giữa hai con người đau khổ, nạn nhân của chiến tranh. Sau chiến thắng, anh giải ngũ và đến Uriupinxcơ làm lái xe vận tải và ở nhờ nhà bạn. Chính trong cuộc sống mới này anh đã gặp bé Vania. Cảm thương trước nỗi đau cả bé: cha chết ở mặt trận, mẹ chết bom khi hai mẹ con đang đi tàu, bản than nó không có ai than thích, đêm đêm bạ đâu ngủ đó… Anh lập tức quyết định: “Không còn gì để có thể chia cắt mình với nó được nữa. Mình sẽ nhận nó làm con nuôi”. Tình huống gặp bé Vania và quyết định cao thượng của Xôkô ôp là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính kiên cường và lòng nhân ái của con người Nga.
Cuối cùng là một tình huống đặc biệt, một tình huống quan trọng tạo nên thành công của tác phẩm.Trên đường cùng Vania cuốc bộ khắp nước Nga, họ đã gặp nhân vật tôi trên bến đò vào mùa xuân đầu tiên sau chiến tranh.Giữa cuộc sống ngổn ngang, tươi mới ấy, câu truyện về cuộc đời của Xôkôlốp được kể lại hết sức cảm động. Hai con người xa lạ bỗng trở nên thân thiết cho thấy nét tính cách hồn hậu, thật thà, cởi mở của Xôkôlốp. Đây chính là thủ pháp “truyện lồng truyện”.Đặt toàn bộ câu chuyện vào hoàn cảnh gặp gỡ ngẫu nhiên giữa hai người lính khiến câu chuyện được kể lại tự nhiên, thuyết phục.Đây là sự kết hợp khéo léo giữa hai yếu tố khách quan và chủ quan.Câu chuyện vừa được kể lại bằng chính trải nghiệm và lời của nhân vật chính lại vừa được kể lại bằng tấm lòng trân trọng, thấu hiểu của nhân vật tôi.Chính vì vậy, câu chuyện để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.
Tóm lại, Sôlôkhốp đã xây dựng nên một chuỗi các tình huống truyện độc đáo, logic. Qua tình huống truyện, tác giả đã xây dựng nên một người anh hùng rất đời thường, rất gần gũi, tiêu biểu cho tính cách con người Nga.
IV. Tính cách Nga thể hiện qua truyện ngắn Số phận con người
Tính cách Nga là một phạm trù thẩm mỹ chỉ những phẩm chất đạo đức, lối sống có tính chung, phổ biến của đông đảo nhân dân Nga. Tính cách Nga biểu hiện phong phú trong cuộc sống, nhưng có thể thấy được nó tập trung ở những phẩm chất: Lòng yêu quê hương đất nước, yêu lao động , lòng yêu thương con người, lòng dung cảm, kiên cường, thủy chung, lòng nhân ái, biết tự trọng, …và đặc biệt là khi nói đến tính cách Nga chúng ta không thể không nói đến sức mạnh tinh thần to lớn ,sáng ngời của con người Nga, nhân dân Nga, đất nước Nga .
Có rất nhiều tác phẩm vĩ đại của văn học Nga đã làm sáng bừng lên tính cách Nga quý giá ,đáng trân trọng ấy. Và truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khốp là một trong số đó. Khi tìm hiểu truyện ngắn này, chúng ta sẽ thấy được một cách rõ ràng tính cách Nga, mà không chỉ vậy mà có thể nói rằng chúng ta đang đi khám phá tìm hiểu nó. Và An-đrây Xô-cô-lốp là hình tượng nhân vật mà Sô-lô-khốp xây dựng để làm nổi bật lên tính cách Nga.
Qua câu chuyện về cuộc đời đau khổ của mình mà Xô-cô-lốp đã kể cho nhân vật “tôi” trong một buổi gặp gỡ tình cờ vào mùa xuân năm 1946, ta thấy rằng ở An-đrây Xô-cô-lốp tính cách Nga được biểu hiện qua từng chặng đường đời của anh cụ thể là: trước khi chiến tranh nổ ra, khi chiến tranh nổ ra , trong chiến tranh và sau khi chiến tranh kết thúc. Đây có thể là một trong những sự lựa chọn để chúng ta khám phá tính cách Nga nơi nhân vật Xô-cô-lốp.
Trước khi chiến tranh bùng nổ, Xô-lô-Khốp có cuộc đời “ thoạt đầu khá là bình thường” như chính anh nói. Anh cũng có cho mình một mái ấm gia dình như bao người khác: vợ hiền, ba đứa con ngoan, học giỏi. Vợ anh mồ côi, tên là Irina –một người phụ nữ “nhu mì, vui vẻ, ân cần niềm nở và thông minh” .Xô-cô-lốp là một người chồng đã nhận ra được vẻ đẹp tâm hồn và biết quý trọng vợ mình “chao ôi, quý hóa biết bao khi có được người vừa là vợ vừa là một bạn gái thông minh”. Cùng với đó anh cũng rất tự hào về những đứa con ngoan , đặc biệt con trai đầu của anh là A-na-tô-li có năng khiếu về toán ,là niềm hãnh diện của gia đình. Cuộc sống của gia đình Xô-cô-lốp như bao gia đình bình thường khác và có thể nói là hạnh phúc. Vào thời điểm đó chúng ta thấy một Xô-cô-lốp bình dị,chăm chỉ, yêu lao động, mong muốn “mấy đứa con có sữa ăn với cháo, trên đầu có mái nhà che nắng che mưa, giày dép đủ, áo quần đủ, thế là mọi sự đều ổn cả” và cũng có niềm vui riêng  khi học lái xe vào năm 29 tuổi “ ngồi sau tay lái tôi thấy đời vui hơn”, hơn thế là anh vô cùng yêu thương gia đình nhỏ bé của mình.Từ đây ta đã có thể cảm nhận được niềm kiêu hãnh của người Nga, những phẩm chất quý báu góp phần làm nên tính cách Nga trong con người Xô-cô-lốp.Đó là sự cần cù chăm chỉ, sự bình dị nhưng đầy ý nghĩa trong cuộc sống, lòng yêu lao động và người thân trong gia đình ở tính cách Nga. Có thể nói nó đã làm nên vẻ đẹp đời thường đầm ấm trong cuộc sống của con người Nga, vẻ đẹp ấy giản dị, nhưng bên trong nó dường như ẩn nấp một sức mạnh tiềm tàng mãnh liệt.
Trước chiến tranh tính cách Nga hiện lên với những vẻ đẹp đời thường như thế và khi chiến tranh nổ ra thì sao? Chính Xô-cô-lốp sẽ cho chúng ta biết điều đó.Từ đây dường như những hạnh phúc bình dị sẽ phải nhường chỗ cho những nỗi đau ,đầu tiên đó là nỗi đau cuộc cuộc chia li. Xô-cô-lốp “ nhận được giấy triệu tập của hội đồng đăng kí quân sự , rồi thứ ba lên tàu” ra mặt trận. Cả nhà ra tiễn anh , nỗi đau của những đứa trẻ “đôi vai rung rung như người bị lạnh”, “không giữ được mấy giọt nước mắt”; đặc biệt là nỗi đau của người vợ tiễn chồng ra mặt trận “suốt đêm ,Irina gục vào vai tôi , vai và ngực áo sơ mi của tôi đẫm nước mắt không khô…”, “hai tay ôm lấy ngực, đôi môi trắng bệch như phấn , thầm thì điều gì đó…” .Khi Xô-cô-lốp lên tàu Irina đã bổ nhào vào ngực chồng, bíu chặt lấy cổ anh, toàn thân run rẩy và nức nở những lời thảm thiết. Anh rất thương vợ nhưng đã có hành động xô vợ và hét lên “ tiễn biệt mà như thế à? Sao mà chôn sống người ta sớm thế” ,hành động này làm cho anh phải hối hận ngay ở hiện tại và nhất là về sau. Cuộc chiến xảy ra, Xô-cô-lốp lên đường ra mặt trận trở thành một người lính .Dù anh rất yêu thương lo lắng , đau đớn khi phải chia tay với vợ con ,nhưng  anh vẫn mang một quyết tâm rất lớn cùng với đó là việc thực hiện trách nhiệm với non sông đất nước. Qua cuộc chia tay đầy nỗi đau của Xô-cô-lốp với gia đình ta lại một lần nữa khẳng định sự gắn kết,tình yêu thương của gia đình anh , sự gắn kết ấy là sợi dây kết nối sức mạnh vô hình của người thân và rộng hơn là sự kết nối của mọi con người Nga tạo nên lãn song tinh thân vô cùng mạnh mẽ. Đến đây, ta lại khám phá ra một nét mới trong tính cách Nga: người lính Nga vô cùng yêu thương gia đình nhưng cũng quyết tâm dằn sự đau buồn để thực hiện trách nhiệm với non song đất nước , và sự yêu thương gắn kết dành cho gia đình sẽ là động lực cho họ chiến đấu anh dũng và dựng xây cho họ niềm tin đoàn tụ cùng gia đình. Đó chính là sức mạnh tinh thần trong tính cách Nga bước đầu được khám phá thông qua nhân vật Xô-cô-lốp khi chiến tranh nổ ra.
Rồi khi bước vào cuộc chiến tranh tàn khốc, đối mặt với những khó khăn, gian khổ,với đau đớn, đối mặt với cái chết cận kề thì tính cách Nga lại càng hiện lên rõ nét :lòng thương yêu, sự dũng cảm kiên cường đầy ý chí, thẳng thắn bộc trực, tấm lòng trung thành đối với Tổ quốc ,…làm nên sức mạnh tinh thần to lớn và bừng sáng mạnh mẽ. Từ những sự việc mà Xô-cô-lốp phải trải qua trong chiến tranh ta sẽ thấy, cảm nhận được những điều đáng khâm phục, trân trọng trong tính cách Nga. Đánh giặc chưa được một năm, An-đrây bị thương hai lần vào tay và chân. Trong thời gia ấy anh vẫn cứ viết thư về nhà nói “ mọi sự đều ổn cả”, vì anh hiểu rằng “ở hậu phương đám đàn bà và trẻ em bất hạnh có dễ chịu gì hơn đâu! Cả nước trông đợi vào họ”, còn trên chiến trường “anh là thằng đàn ông, anh là thằng lính, khi cần thiết phải chụi hết, phải gánh hết”. Ở đây, ta thấy rằng Xô-cô-lốp là một người biết đồng cảm với mọi người, là một người lính xá định được rõ ràng trách nhiệm của mình cũng như có quyết tâm hoàn thành trách nhiệm ấy.Chính tinh thần kết nối bằng sự thông cảm và thấu hiểu với “đám đàn bà trẻ con” ấy ở hậu phương tạo nên sức mạnh để cộng đồng dân tộc ,nhân loại chống chọi với thù hận, chia lìa của chiến tranh phát-xít.
Không chỉ vậy mà Xô-cô-lốp với một sức mạnh diệu kì trong tinh thần  đã không hề lung lay ý chí, lòng dũng cảm kể cả khi cận kề cái chết. Anh đã phải đối mặt đồng thời với kẻ thù và với tử thần trong tình trạng bị thương rồi ngất đi , anh biết cái chết đang đến gần mình , nhưng trong giây phú ấy Xô-cô-lốp “ không hề hoảng hốt, không hề lo sợ chút nào”. Vậy điều gì trong Xô-cô-lốp đã làm nên “tinh thần thép” ấy. Có lẽ đó chính là sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý chí tiềm tàng trong tính cách Nga, nó tạo nên sự dũng cảm cho người lính ấy, có thể với anh lúc ấy dù có hy sinh thì cũng là cống hiến cho đất nước .Điều đó đáng để anh tự hào. Sau đó Xô-cô-lốp bị quân Đức bắt làm tù binh, anh được một người bác sĩ quân y chữa cho khỏi bong gân và An-đrây nhận xét rằng “một người thầy thuốc chân chính là như thế đấy”, anh vẫn có thể cảm nhận được tình thương và lòng nhân ái kể cả trong hoàn cảnh khốn khó. Và ở đây tính cách Nga trong con người anh lại càng hiện lên mạnh mẽ.
Đó là sự thẳng thắn, bộc trực, căm ghét lũ phản bội. Điều này được thể hiện qua hành động xử một tên phản bội trong khi Xô-cô-lốp bị bắt làm tù binh khi hắn định phản bội chỉ huy của mình. Anh nghĩ “ thằng chó đẻ kia ơi, đừng hòng tao để cho mày phản bội chỉ huy của mày”. Và từ suy nghĩ biến thành hành động , anh đã “nhảy chồm lên thằng ấy, mấy ngốn tay thít chặt cổ họng hắn…Thế là xong đời một tên phản bội”, “lần đầu tiên trong đời, tôi đã giết người, mà đó lại là người mình…Nhưng sao hắn lại là người mình được nhỉ?Hắn còn tồi tệ hơn người xa lạ nữa kia, hắn là thằng phản bội…”. Suy nghĩ và hành động này của Xô-cô-lốp thể hiện phẩm chất cương trực, tấm lòng luôn đề cao sự trung thành, yêu lẽ phải ,trọng chính nghĩa, luôn hướng tới lí tưởng cao đẹp đáng quý trong tính cách Nga. Đó là hành động mang tính quyết định cho vận mệnh của bản thân cũng như tham gia quyết định vận mệnh của dân tộc. Nó góp phần khẳng định tính cách Nga thời đại mới : tự do trong tâm hồn, trong nhân cách. Đây có lẽ là một sự khám phá tính cách Nga trong Số phận con người mà Sô-lô-khốp muốn làm nổi bật lên. Đối mặt với cái chết lần tiếp theo là sự kiện anh cố gắng chạy trốn khỏi nhà tù phát-xít rồi bị bắt lại. Khi ấy dù vô cùng đau đớn nhưng anh vẫn rất kiên cường , đồng hành là tấm lòng sâu đậm với nước Nga , An-đrây “vẫn cứ sống …và vẫn con sống”. Một ý chí, một khát vọng sống mãnh liệt của con người Nga.
Tại trại tập trung của tù binh, có một lần Xô-cô-lốp bị tên trại trưởng khét tiếng tàn ác cho gọi và bày ra một trò tiêu khiển: thử xem An-đrây lâu ngày nhịn đói có còn uống rượu được như một người hay không. Song bon Đức đã không thể biến An-đrây “ thành súc vật”. Với “phẩm chất Nga và niềm kiêu hãnh của mình”, Xô-cô-lốp  đã chứng tỏ dũng khí của một người Nga đầy ý chí , đầy tinh thần thép.Khi tên trưởng trại rót một cốc rượu cùng một lát bánh mì và mỡ đưa cho anh bảo hãy uống mừng chiến thắng của quân Đức. Nhưng Xô-cô-lốp từ chối và nói “Uống mừng cái chết của mình được thoát khỏi mọi đau khổ thì tôi sẽ cạn cốc”. Xô-cô-lốp được tha chết. Phẩm chất Nga, tinh thần Nga nâng bước giúp anh vượt qua bao phen cận kề cái chết và chính anh cũng một lần nữa giúp tính cách Nga bừng sáng, lòng trung thành, sức mạnh tinh thần của con người Nga một lần nữa được khẳng định. Bên cạnh đó, ta còn thấy được tinh thần sẻ chia, khả năng nghĩ đến người khác với tình yêu thương của con người Nga qua hành động chia sẻ “ khúc bánh mì không to lắm và một miếng thịt mỡ” tên trại trưởng cho của Xô-cô-lốp. Chính sự đoàn kết, sẻ chia đó đã làm nên sức mạnh tập thể dẫn những người Nga đến chiến thắng.
Sự việc tiếp theo có thể chứng tỏ tính cách Nga mạnh mẽ trong nhân vật Xô-cô lốp là một lần bọn Đức bắt An-đrây lái xe trở một tên thiếu tá kĩ sư và anh đã chạy trốn được khỏi trại tù binh, trở về với hồng quân, Xô-cô-lốp còn mưu trí dũng cảm bắt sống tên thiếu tá Đức và lấy được cặp tài liệu của hắn. Điều này càng co thấy lòng trung thành với Tổ quốc của anh, cùng với đó là sự dũng cảm mưu trí , mong muốn lập công để cống hiến cho sự nghiệp chung của dân tộc. Và đó cũng chính là những phẩm chất tốt đẹp trong tính cách Nga. Tất cả đều thể hiện được sức mạnh tinh thần to lớn của con người Nga đáng khâm phục. Trong cuốn lịch sử văn học Nga (NXBGD 1998) giáo sư Hoàng Ngọc Hiến bày tỏ: “ Câu chuyện bình thường của một người lính…về cuộc đời mình, về những gian khổ và những nỗi đau buồn trong chiên tranh đã biến thành lời trần thuyết đau thương mang ám ảnh anh hùng về lòng dũng cảm, sức chịu đựng và sức mạnh tinh thần ghê gớm của người Nga”.
Trải qua bao nhiêu gian khổ tính cách Nga vẫn bừng sáng mạnh mẽ ở Xô-cô-lốp.Nhưng  gian lao thử thách trong chiến tranh liệu có thể sánh bằng nỗi đau mất người thân hay không? Sau khi trở về với quân Nga,ít lâu sau Xô-cô-lốp nhận được tin vợ và hai con hái của anh đã mất trong một trận bom phát-xít.Điều này đau đớn biết nhường nào, giờ đây niềm tự hào, niềm hi vọng cuối cùng của An-đrây là A-na-tô-li con trai của anh giờ đã là một đại úy pháo binh chiến đấu gần nơi anh. Nhưng đúng vào ngày 9/5/1945-ngày chiến thắng phát-xít Đức, anh được tin con trai anh đã hi sinh trong trận đánh cuối cùng. Vậy là bao nhiêu mong muốn, hy vọng đều bị dập tắt, thay vào đó là nỗi đớn đau thêm chồng chất, anh đã phải chôn “ niềm vui sướng và niềm hy vọng cuối cùng” của mình trên đất Đức với “những giọt nước mắt dường như đã khô lại trong tim…làm tim đau buốt”.Con người Nga dù ở trong hoàn cảnh nào vẫn không thôi thương nhớ về những người thân yêu, vẫn không thôi hy vọng về ngày gia đình đoàn tụ , hy vọng về một tương lai. Nhưng giờ đây không chỉ Xô-cô-lốp mà rất nhiều nười lính Nga khác phải chịu nỗi đau xé nát tâm can khi mất người thân, khi bơ vơ trong cuộc đời. Đó chính là mất mát đau thương dường như không gì có thể bù đắp được do chiến tranh gây ra cho đất nước, con người Nga nói riêng và cho biết bao con người đã từng phải chụi nỗi đau chiến tranh trên thế giới nói chung . Và những con người Nga kiên cường ấy với sức mạnh tinh thần mạnh mẽ của mình có thể vượt qua nỗi đau ấy được hay không? Để trả lời được câu hỏi này, chúng ta hãy tiếp tục khám phá tính cách Nga qua nhân vật tiêu biểu mà Sô-lô-khốp mang đến trong Số phận con người là An-đrây Xô-cô-lốp.
Có thể nói rằng, nỗi đau chiến tranh đã mang lại nhiều bi kịch bất hạnh cho con người Nga. Nhưng chính trong nỗi đau tột cùng ấy tính cách Nga vĩ đại lại tỏa sáng một cách diệu kì.Sau khi chiến tranh kết thúc, A.Xô-cô-lốp làm lái xe cho một hãng vận tải, nhưng anh vẫn mang trong tim sự đau đớn vô hạn, nó khó có thể được hàn gắn và trước mắt là một tương lai lạc lõng mịt mờ. Xô-cô-lốp đã tìm đến rượu để dịu bớt nỗi đau. Và anh đã gặp cậu bé Va-ni-a rồi nhận cậu bé làm con nuôi. Va-ni-a cũng là một số phận lạc lõng phải chịu nỗi đau do chiến tranh : bố thì “chết ở mặt trận”, còn “mẹ bị bom chết trên tàu khi mẹ con cháu đang đi tàu”. Phải chăng vì cùng cảnh ngộ mà Xô-cô-lốp đã nhận Va-ni-a làm con nuôi chỉ để có một gia đình, nhưng nguyên nhân chính của hành động đó là xuất phát từ tấm lòng nhân ái , lòng yêu thương con người trong tính cách Nga . Một con người trải qua chiến tranh tưởng như đã bị “chai sạn” vì đau đớn  nhưng không bên trong họ vẫn tràn đầy tình yêu thương. Và tình yêu thương cũng là cội nguồn làm nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Nga. Xô-cô-lốp xót xa cho hoàn cảnh của Va-ni-a, xót xa khi thấy em thở dài “một con chim non nớt như thế mà đã học thở dài ư? Đấy đâu phải việc của nó?”. Anh đã khóc “những giọt nước mắt nóng hổi sôi lên ở mặt tôi” khi biết hoàn cảnh đau thương ,mồ côi của cậu bé. Đó chính là biểu hiện của tình yêu thương.
Sự ngây thơ tin tưởng, tình cảm gắn bó quyến luyến của cậu bé đã phần nào xoa dịu trái tim đã “suy kiệt”, “chai sạn” của Xô-cô-lốp. Anh lại có một trách nhiệm ngọt ngào trong cuộc đời mình là nuôi nấng Va-ni-a, “nó rúc vào nách tôi như con chim sẻ dưới mái dạ, ngáy khe khẽ, tôi thấy lòng vui không lời nào tả xiết”. Anh đã chăm sóc cậu bé một cách cẩn thận: đưa cậu bé đi cắt tóc, tắm rửa cho cậu bé, mua cho cậu bé quần áo mới,…Quan trọng hơn là Xô-cô-lốp muốn cho Va-ni-a có một cuộc sống tốt đẹp, có một tuổi thơ tràn đầy yêu thương, sự vui tươi, hy vọng. Điều này xuất phát từ tấm lòng yêu trẻ thơ của anh.Đó là mong muốn nhưng cũng chính là trách nhiệm mà anh phải cố gắng thực hiện. Sô-lô-khốp muốn nhấn mạnh ý thức trách nhiệm con người trong tính cách Nga. Bằng tất cả tấm lòng ,Xô-cô-lốp đã học cách chăm sóc Va-ni-a , cho bé có một cuộc sống đầy đủ nhất về cả vật chất lẫn tinh thần. Ta có thể thấy rõ điều này qua miêu tả của nhân vật “tôi” trong cuộc gặp gỡ với hai bố con Xô-cô-lốp và Va-ni-a: người bố có “đôi bàn tay to tướng đen sạm” với “ chiếc áo lông rách nhiều chỗ vá víu một cách cẩu thả vụng về, miếng vá đắp lên trên cái quần cỏ úa đã tàng cũng không được khâu cẩn thận,…và nói cho đúng hơn đó là những đường kim sào của bàn tay đàn ông”; còn cậu bé thì khác “chú bé ăn mặc giản dị nhưng toàn đồ tốt: một chiếc áo khoác dài lót một lớp lông cừu mỏng đã cũ, đôi ủng xinh xắn…” làm liên tưởng đến “sự chăm sóc của người phụ nữ, đôi bàn tay khéo léo của người mẹ”. Đó là về vật chất, còn về tinh thần thì anh cố gắng làm cho cậu bé có một tuổi thơ vui vẻ “líu ríu như chim sẻ”, ứng biến với trí nhớ “như quầng sáng,cứ chợt lóe lên” của cậu bé .
Từ đây ta khám phá ra rằng tính cách Nga được thể hiện qua Xô-cô-lốp sau khi chiến tranh kết thúc,vẫn là sự nối tiếp của truyền thống và được nâng lên một tầm cao mới. Nỗi đau do chiến tranh gây ra khó có thể lành lại được, cho đến hiện tại thì Xô-cô-lốp cũng chiêm bao thấy những người thân quá cố, thấy cảnh tượng đau đớn không thể đến bên người thân, và điều kì lạ là “ban ngày bao giờ tôi cũng trấn tĩnh được, không hở một tiếng thở dài, một lời than vãn, nhưng ban đêm thức giấc thì gối ướt đẫm nước mắt”. Họ -những người lính kiên cường không chỉ khóc trong chiêm bao mà còn khóc trong thực tại, cái chính là “đừng để em thấy những giọt nước mắt đàn ông hiếm hoi nóng bỏng lăn trên má anh”. Sô-lô-khốp đã không ngại nói đến những tổn thương to lớn về tinh thần do chiến tranh gây ra đối với con người Nga, nhưng chính trong nỗi đau ấy ta càng thấy được sức mạnh, bản lĩnh vững vàng của những con người Nga kiên cường ấy. Xô-cô-lốp và Va-ni- a là hai trong nhiều mảnh ghép số phận phải chịu mất mát đau thương, và họ đã đến được với nhau để sưởi ấm trái tim cô đơn, tăng thêm niềm vui sống. Con người Nga đã phải chịu nhiều đớn đau trong chiến tranh nhưng chính tính cách Nga kiên cường, dũng cảm, tràn đầy lòng nhân ái và tình yêu thương , sức mạnh tinh thần mãnh liệt đã giúp họ vượt qua khó khăn, đau đớn trong cuộc sống để hướng tới tương lai.
Khám phá, tin tưởng vào những tính cách Nga tiêu biểu như Xô-cô-lốp và Va-ni-a, nhân vật “tôi” hay chính Sô-lô-khốp nghĩ về số phận của hai cha con: “Hai con người côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi tới những miền xa lạ…Cái gì đang chờ đón họ ở phía trước? Thiết nghĩ rằng con người Nga đó, con người có ý chí kiên cường, sẽ đứng vững được và sống bên cạnh bố, chú bé kia một khi lớn lên sẽ có thể đương đầu với mọi thử thách, sẽ vuợt qua mọi chướng ngại trên đường nếu như Tổ quốc kêu gọi”. Và người cha ấy sẽ là một tấm gương, là chỗ dựa vững chắc nâng bước cậu bé trong tương lai.
Như vậy để lột tả tính cách Nga trong con người Xô-cô-lốp, nhà văn đã xây dựng hình tượng nhân vật rất thành công, nhân vật đã được đặt trong những tình huống phức tạp đa dạng để có thể bộc lộ một cách rõ nét, sâu sắc tính cách Nga ấy. Dũng cảm gan dạ trong chiến đấu, kiên quyết không khoan nhượng với kẻ thù đồng thời lại giàu tình thương yêu,khả năng nghĩ đến người khác, nâng niu trân trọng, xót thương bảo vệ những giọt nước mắt trẻ thơ,…đó là những hai phẩm chất tưởng như đối lập nhưng lại hoàn toàn thống nhất trong tính cách Nga. Tất cả làm nên sức mạnh tinh thần to lớn giúp con người Nga đi đến chiến thắng trong chiến tranh, cũng như giúp họ tiếp tục hướng tới tương lai đầy hi vọng phía trước.Mỗi chúng ta rất khâm phục những phẩm chất tốt đẹp của con người Nga và chính tính cách Nga cũng làm cho mỗi người trên đất nước Nga tự hào. Nhà văn A. Tolstoy trong tác phẩm Tính cách Nga đã viết: “ đấy, cái tính cách Nga là như thế! Một con người chừng như là bình thường, nhưng khi gặp thử thách gay go, dù lớn hay nhỏ, ở con người ấy cũng sẽ trỗi dậy một sức mạnh vĩ đại-vẻ đẹp một con người”.
V. Tổng kết
Truyện ngắn Số phận con người của nhà văn Nga lỗi lạc Sô-lô-khốp đã thể hiện cách nhìn cuộc sống và chiến tranh một cách toàn diện, chân thực. Với dung lượng tư tưởng lớn của truyện khiến có người liệt nó vào loại tiểu anh hùng ca. Tác phẩm có những thủ pháp nghệ thuật nổi bật và đặc sắc như nghệ thuật xây dựng tình huống “truyện lồng truyện”, về người kể chuyện: nhân vật “tôi” (tác giả) thuật lại câu chuyên anh được nghe từ Xô-cô-lốp (người kể chuyện) , nghệ thuật khắc họa nhận vật An-đrây Xô-cô-lốp đã làm lột tả được tính cách Nga đáng khâm phục và trân trọng. Thông qua số phận cá nhân của Xô-cô-lốp, một giai đoạn lịch sử hào hùng và đau thương đã được tái hiện rất nghệ thuật.Khẳng định sức mạnh con người Nga, tính cách Nga kiên cường dũng cảm giàu tình yêu thương con người, giàu lòng nhân hậu nhà văn đã “ không quên nhắc nhở, kêu gọi sự quan tâm, trách nhiệm của xã hội đối với số phận mỗi cá nhân”. Đó chính là thái độ ,quan điểm cũng như sự nhân văn mà Sô-lô-khốp muốn gửi gắm tới mỗi chúng ta qua truyện ngắn này. Và sự thật táo bạo bao trùm toàn bộ tác phẩm cùng những ý nghĩa của nó đến nay vẫn còn nguyên giá trị .
*Thủ pháp “truyện lồng truyện”_nhân tố hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng tình huống truyện để lột tả được chân thực, rõ nét nhất “tính cách Nga”
Nhân vật “tôi” thuật lại câu chuyện anh được nghe từ Xô-cô-lốp_người kể chuyện. Qua đó, cả một giai đoạn lịch sử hào hùng và đau thương của đất nước được tái hiện rất nghệ thuật thông qua số phận cá nhân của A.Xô-cô-lốp. Nhờ vậy mà tình huống truyện lịch sử được khéo léo dựng lên, bức tranh về xã hội Nga một thời đã qua được tái hiện chân thực hơn bao giờ hết.Từ đầu đến cuối, lời người kể và lời nhân vật chính đan quyện vào nhau, thúc đẩy cốt truyện phát triển.Hai nhân vật thay nhau tiếp nối câu chuyện một cách đầy đủ, trọn vẹn.Giọng điệu khách quan chân thực khiến nhân vật như từ trang sách bước ra cuộc sống để kể lại với thời đại câu chuyện về cuộc đời mình. Người đọc bị thuhút sự chú ý vào hình tượng trung tâm_một hình tượng chân thực, sinh động và giàu sức thuyết phục đã đi vào lòng người đọc với toàn bộ những nét tính cách đáng trân quý của con người Nga.
Nghệ thuật “truyện lồng truyện” đã thu hẹp tối đa khoảng giữa nhân vật và bạn đọc, làm cho tư tưởng kết tinh của truyện đến với bạn đọc trực tiếp hơn, sâu sắc hơn. Bi kịch của một người lính trong chiến tranh  không còn là bi kich chung, đại thể mà là một cảnh ngộ bi kịch cụ thể, tiêu biểu của một số phận cá nhân, những bi kịch ấy chỉ càng làm người đọc thêm tin yêu, trân trọng sức sống Nga trong A. Xô-cô-lốp hay cũng là trong chính những con người Nga thời chiến loạn.
VI. Tài liệu tham khảo:
1.     Lịch sử văn học Nga của Nguyễn Hồng Chung, Nguyễn Kim Đính, Nguyễn Hải Hà, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Trường Lịch, Huy Liên.
2.     Văn học Nga trong nhà trườngcủa Hà Thị Hòa (biên soạn và tuyển chọn)
3.     Sách giáo khoa lớp 12 tập 2: nhà xuất bản giáo dục.
4.     Sách giáo viên lớp 12 tập 2: nhà xuất bản giáo dục.
5.     Giáo trình văn học Nga của Đỗ Hải Phong (chủ biên) và Hà Thị Hòa.
6.     Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Số phận con người” của M.Sôlôkhốp của Nguyễn Thị Ngọc.







TRUYỆN NGẮN “MỘT CON NGƯỜI RA ĐỜI” MAKSIM GORKY



              TRUYỆN NGẮN “MỘT CON NGƯỜI RA ĐỜI”
                                                                            MAKSIM GORKY

                                                MỤC LỤC
MỤC LỤC
ĐỀ TÀI: TRUYỆN NGẮN “MỘT CON NGƯỜI RA ĐỜI”
I.KHÁI QUÁT CHUNG:
    1. Tác giả:
        1.1. Cuộc đời:     
        1.2. Sự nghiệp:
    2. Tác phẩm:
        2.1. Hoàn cảnh sáng tác:
        2.2. Tóm tắt tác phẩm:
II. ĐẶC SẮC TRUYỆN NGẮN CỦA GOR-KY TRONG TÁC PHẨM “MỘT CON NGƯỜI RA ĐỜI”:
    1.Bút pháp lãng mạn kết hợp với nghệ thuật miêu tả:         
       2.Bút pháp hiện thực:
       3.Nhân vật “Tôi” trong truyện ngắn “Một con người ra đời”:
      4. Quan niệm về con người của M.Gorky qua “Một Con Người ra đời”.
III. TỔNG KẾT:
TÀI LIỆU THAM KHẢO


I.KHÁI QUÁT CHUNG:
    1. Tác giả:
        1.1. Cuộc đời:
 - Ông là nhà văn xuất sắc của nước Nga, tên thật Alêchxây Măcximôvich Pêscôp, sinh năm 1868, mất 1936, xuất thân trong một gia đình lao động nghèo.
- Ông có tuổi thơ nhiều bất hạnh: Sớm mồ côi cha mẹ, phải bỏ học để kiếm sống bằng nhiều nghề, trải qua nhiều cay đắng tủi nhục .
- Ông có tinh thần say mê học tập, kiên trì tự học, khao khát vươn lên bằng sự phấn đấu không mệt mỏi của bản thân .
- Ông tham gia hoạt động cách mạng rất sớm (1905), khi nước Nga đang chuyển mình dữ dội để đoạn tuyệt với chế độ chuyên chế Nga hoàng cuối thế kỉ XIX để bước vào thời đại mới .
- Gorki có ảnh hưởng sâu rộng đối với nhiều thế hệ nhà văn và đối với sự phát triển của văn học Xô viết sau này, Lê Nin ca ngợi ông là: “Đại diện vĩ đại nhất của nghệ thuật vô sản” .
        1.2. Sự nghiệp:
-Bằng nghị lực phi thường, với niềm khao khát cháy bỏng giải thoát nhân dân khỏi đói nghèo, ông đã nổ lực học tập và bền bỉ sáng tác. Sáng tác của Gorki thật đồ sộ, gồm nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản văn học, văn chính luận, chân dung văn học...
-Tên tuổi của Gorki gắn liền với bộ ba tự thuật: “Thời thơ ấu”, “Kiếm sống”, “Những trường đại học của tôi”.
-Ngoài ra còn có tiểu thuyết “Người mẹ”, vở kịch “Dưới đáy” và hàng trăm truyện ngắn. Đặc biệt là truyện ngắn “Bà lão Iderghin”, “Bài ca chim ưng”...đã khắc sâu vào trái tim độc giả bao thế hệ nay.
    => Sáng tác của Gorki thấm đẫm vẻ đẹp nhân văn hiếm có. Gorki là nhà văn vĩ đại cho thế hệ trẻ niềm tin, về dũng khí và sáng tạo để bước vào thế kỉ XX.
    2. Tác phẩm:
        2.1. Hoàn cảnh sáng tác:
-“Một con người ra đời” (1912) là truyện được viết trong bối cảnh nước Nga đang trải qua thời kì “đêm trước của Cách mạng tháng Mười”.
        2.2. Tóm tắt tác phẩm:
          Vào năm 1892, ở miền Nam nước Nga, một đoàn người đói khổ kéo nhau đến Otsemtsiry kiếm việc làm, họ đến vùng ven biển.Trong đoàn người này,có một phụ nữ trẻ, khoẻ mạnh, mang thay sắp đến ngày sinh nở. Chị chuyển dạ và lên cơn đau dữ dội. Chị đau đớn tột cùng vật vã, kêu rống khủng khiếp như trong ngày tận thế. Nhờ có sự giúp đỡ tận tình của một chàng trai vừa nhanh nhẹn, vừa khéo tay vui tính, người phụ nữ đã vượt qua đau đớn, sinh được một bé trai đầu lòng khoẻ mạnh kháu khỉnh.Như có sức mạnh diệu kỳ,cháu bé đã khiến cho người mẹ và chàng thanh niên quên đi những gian khổ trước mắt và họ cùng sung sướng tự hào. Chính đứa bé đã đem đến cho đoàn người đang sống trong hoàn cảnh cùng khổ một chổ dựa tinh thần giúp họ có thể vượt qua mọi gian lao vất vả trước mắt .
        Nội dung tác phẩm: Truyện ca ngợi lòng nhân ái tình mẫu tử và gửi gắm quan niệm về con người của Gorki. Qua đó, Gorki thể hiện thái độ trận trọng, tin yêu đối với con người và mong muốn họ vượt qua gian lao vất vả, vươn tới hạnh phúc.
II. ĐẶC SẮC TRUYỆN NGẮN CỦA GOR-KY TRONG TÁC PHẨM “MỘT CON NGƯỜI RA ĐỜI”:
    1.Bút pháp lãng mạn kết hợp với nghệ thuật miêu tả:         
-Gorki đã phát huy sức mạnh thần kì của cây bút để tạo nên sự độc đáo, thành công cho tác phẩm.Đó là tài năng điêu luyện trong việc sử dụng bút pháp lãng mạn. Trong tác phẩm Một con người ra đời được tác giả kể và viết lại thông qua cái nhìn của nhân vật Tôi, mọi cái đẹp của cuộc sống, của con người và của thiên nhiên đều được nhìn qua đôi mắt của nhân vật Tôi đó. Bút pháp lãng mạn của Gorki trước hết bắt đầu từ việc miêu tả cảnh sắc của thiên nhiên. Đó là vẻ đẹp của mùa thu ở vùng giữa xukhum và Otesemtisry trên bờ sông Kodor.Thiên nhiên Nga đẹp tuyệt vời, tráng lệ hiện ra như một bức tranh thủy mặc với đầy đủ những đường nét, màu sắc sinh động, tươi sáng. Nó được miêu tả theo con mắt nhìn của Tôi từ gần ra xa, rồi từ thấp cho đến cao, phải trái lần lượt theo thứ tự tầng bậc.Những chi tiết miêu tả giàu hình ảnh, tinh tế như hiện lên trươc mắt bạn đọc. Đầu tiên hình ảnh dòng sông Kodor quay cuồng trắng xóa của những bọt nước với những chiếc lá trúc đào đã vàng úa, khi ẩn khi hiện trông như những con cá mương, rồi những tảng đá cheo leo trên dòng nước, đến những cây dẻ nhuộm màu vàng rực,trên đỉnh núi treo lơ lửng những đám mây, bóng mây nhẹ nhàng triền đi trên các đỉnh núi. Rồi nhẹ nhàng  xen vào đó màu xám lam của những con nhạn đang từ phương bắc xa xôi đến đây… Một bức tranh thiên nhiên không chỉ có màu sắc, có hình ảnh mà nó còn tươi vui hơn, sống động hơn bởi sự góp nhặt,  tô điểm vào bức trang ấy những âm thanh rộn ràng: đó là tiếng chảy rì rầm của tiếng sóng biển,tiếng xô nhau của những bọt nước trên dòng sông Kodo, rồi tiếng kêu của chim âu, chim cốc, chim gõ kiến. Không dừng lại đơn thuần với những hình ảnh, màu sắc, âm thanh mà bức tranh còn thoảng phát cả hương vị, hương vị ngọt ngào, ngây ngất đắm say của một thứ mật say đã từng suýt gây tai họa cho cả một đoàn quân của Poompe vĩ đại, chính là hương thơm của loại mật ong đặc biệt, “ong đã làm ra chất mật ấy bằng nhụy hoa nguyệt quế và hoa đỗ quyên”. Nhân vật tôi nhìn bức tranh thu bằng tất cả tâm hồn của mình hay chính hơi thở của Gorki thở vào trong đó làm cho bức tranh càng trở nên có hồn hơn, sống động hơn, và đẹp tuyệt hơn, tình người đã làm cho cảnh vật trở nên giàu sức sống, gần gũi thân mật với con người “những con chim âu, chim cốc kia cũng biết “mắc cỡ mà kêu lên những tiếng hờn dỗi”, “mấy con sơn tước láu lỉnh”, “bóng mây trườn đi”, “con ong nổi giận”, “những chiếc lá giống như những bàn tay”…
             Nhà văn đã vẽ ra một không gian thu đa chiều, với hình ảnh thiên nhiên tuyệt mĩ, vẻ đẹp ấy nó không chỉ chân thực tự nhiên mà theo nhân vật tôi nó còn mang trong mình những nét đẹp cổ điển “ cảnh mùa thu ở Kapkaz giống như cảnh một thánh đường tráng lệ dựng lên do những bậc đại thần, một ngôi đền bằng ngọc bích, ngọc thạch, học đã treo lên các sườn núi những tấm thảm đẹp nhất của người Tuyecman dệt bằng lụa tại Xamarkand…”
          Gorki dùng bút pháp lãng mạn để phác họa khung cảnh thiên nhiên để giúp con người ta nhân thấy được giữa cuộc sống con người và thiên nhiên luôn có mối quan hệ với nhau, cuộc sống con người không phải lúc nào cũng tốt đẹp, hạnh phúc, có lúc ta cũng thấy đau khổ, chán chường, tuyệt vọng nhưng tất cả không phải là mãi mãi, con người có thế thay đổi được cuộc đời của mình chỉ cần có hi vọng, cố gắng sống, vượt lên trên hoàn cảnh và ta nhận thấy rằng con người phải có niềm tin rằng mình được sinh ra trên trái đất này là niềm hạnh phúc lớn lao, được thấy bao nhiêu điều kì diệu, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của trái đất là một diễm phúc. Trước khung cảnh thiên nhiên lộng lẫy huyền bí đấy nhà văn không thể kìm nén được nổi sự thán phục, yêu cuộc sống luôn hãnh diện tự hào khi được sống trên cuộc đời này, và sống đúng như danh hiệu con người  “ cao cả thay cái chức làm người trên trái đất, được thấy bao nhiêu điều kì diệu , trái tim được rung động một cách ngọt ngào mãnh liệt biết bao nhiêu trong khi nín lặng chiêm ngưỡng cái đẹp tuyệt vời”.Con người nên hòa cuộc sống của chính mình cùng với sự tồn tại của thiên nhiên đất trời.Gorki đã hướng con người tới vẻ đẹp của thiên nhiên, vũ trụ của tạo hóa tồn tại bất diệt. Vẻ đẹp của thiên nhiên phải thuộc về con người và bản thân mỗi con người phải luôn có ý thức bảo vệ vẻ đẹp đáng quý đó.
        Bút pháp lãng mạn của nhà văn không chỉ để miêu tả thiên nhiên mà còn hướng tới việc xây dựng nhân vật và đặc biệt hơn là khi nhà văn diễn tả niềm vui, niềm hạnh phúc của người mẹ khi đứa trẻ ra đời. Niềm vui của bà mẹ ánh lên trong  nụ cười và đôi mắt, khi mới sinh xong dù người con đau đớn  nhưng bà vẫn nở nụ cười, một nụ cười rạng rỡ, nụ cười đẹp đẽ, chói lọi khiến cho nhân vật tôi gần như lóa mắt. Đó là nụ cười mãn nguyện, tràn đầy yêu thương và hạnh  phúc và có lẽ từ đầu tác phẩm đến giờ đây là nụ cươi tươi đẹp nhất, giờ đây nó không chỉ là nụ cười giản đơn của một người mẹ mà nó đã trở thành biểu tượng cho con người vĩ đại đấng tối cao sáng tạo ra con người.
        Cùng niềm vui, niềm sung sướng ánh lên trong  nụ cười của người mẹ là đôi mắt thần thánh , đôi mắt đẹp vô cùng “ chị khẽ kêu lên một tiếng, im bặt, rồi lại mở mắt ra, đôi mắt đẹp vô cùng, đôi mắt thần thánh của người sản phụ. Xanh biếc, đôi mắt ấy nhìn lên bầu trời xanh biếc, trong đôi mắt bừng lên và hoà tan một nụ cười hoan hỉ biết ơn”. Đôi mắt của người mẹ xanh biếc là một màu mắt rất đặc trưng của người dân Oren, nhưng nhà văn nói đến màu xanh biếc ấy không chỉ nói màu mắt của người mẹ hay của người dân Oren mà xa xôi hơn màu xanh ấy hắt lên từ ngọn lửa tình yêu, hạnh phúc, tình thương đang cháy trong tâm hồn mẹ. Niềm vui của người mẹ khi đứa con ra đời,niềm vui khi được thực hiện thiên chức của người mẹ mà bao phụ nữ khát mong còn lan tỏa ra cả thiên nhiên xung quanh. Tất cả mọi vật đều như hoan hỉ tươi vui chào đón một thiên thần nhỏ bé ra đời, bầu trời xanh biếc, sóng biển vỗ rì rào, lá thu vàng rực và mặt trời chói lọi. Thiên nhiên càng tráng lệ bao nhiêu thì lại vẻ đẹp con người lại càng trở nên kì vĩ bấy nhiêu. Mẹ là Đấng Sáng Tạo và hình ảnh của đứa trẻ kia chính ra sản phẩm của sự sáng tạo. Câu chuyện như một bài ca ca ngợi sự vĩ đại của con người. Nếu như trên nhà văn hướng con người đến cái đẹp của tạo hóa thì giờ đây ông lại hướng tới cái đẹp của tình thương, tình máu mủ, đến cái đẹp của con người. Chất lãng mạn của nhà văn dẫn dắt ta đến những cái đẹp nhất, thánh thiện và vĩ đại nhất.
    2.Bút pháp hiện thực:       
         Những dòng văn miêu tả thiên nhiên  tuyệt vời như vậy cũng chính là dụng ý của nhà văn xây dựng một không gian hoành tráng mĩ lệ để làm nền cho một hiện thực nghiệt ngã đang diễn ra trên đất nước Nga. Thiên nhiên mùa thu vùng kapakz càng tươi đẹp, huyền bí bao nhiêu thì con người nước Nga lại đau khổ, bần cùng bấy nhiêu.Con người Nga vào  những năm 1892 bị nạn đói tàn phá những con người khốn khổ phải rời bỏ quê hương xứ sở thân yêu của mình để tìm đến những vùng đất mới, lang thang phiêu bạt khắp đất nước Nga để kiếm kế sinh nhai nuôi sống cái thân bé nhỏ, đau thương của mình, những con người kiệt quệ khổ sở mà theo nhân vật tôi nhìn thấy họ “ những con người đói ăn trước đi đắp đường ở Xukhum bây giờ đang kéo nhau đến Otsemtsiry để xin việc”. Đây cũng chính là một biện pháp nghệ thuật đặc sắc trong truyện ngắn của Gorki.Việc vận dụng thủ pháp tương phản đối lập giữa thiên nhiên và cuộc sống xã hội Nga đã đem đến cho câu truyện một không gian nghệ thuật độc đáo đăc sắc vừa hiện thực lại vừa lãng mạn bay bổng. Chính nghệ thuật tương phản đối lập ấy là cái phông nề cho một hiện tượng đặc biệt xảy ra “ một con người ra đời”.
    Để làm rõ quá trình “Một con người ra đời’’ nhà văn đã sử dụng thành công bút pháp hiện thực với cách miêu tả chi tiết chân thực. Hoàn cảnh của chị ta khắc khổ,éo le, nghiệt ngã và bất hạnh, nhà nghèo chồng chết chị phải một mình lặn lội, lang thang tới vùng đất khác để kiếm sống.Nhà văn đã tập trung bút lực miêu tả một cách rõ nét, chi tiết, cụ thể, cặn kẽ “ lần lượt không bỏ sót một điều gì trong toàn bộ quá trình sinh nở của một người mẹ đau khổ: từ lúc đau đẻ, trở dạ, cắt rốn, chờ nhau”- ( Nguyễn Hải Hà). Gorki đã miêu tả hiện thực trần trụi, hiện thực nhất về sự đau đớn của người mẹ, cả về nỗi đau thể xác lẫn nỗi đau tinh thần.
         Trước tiên về nỗi đau thể xác như đã nói ở trên nhà văn miêu tả khá công phu tỉ mỉ một cách sinh động từ khi người mẹ chuyển dạ đến khi đứa bé đỏ hỏn ra đời với nhiều biểu hiện, trạng thái, ông miêu tả từ ngoại hình cho đến tâm lí của nhân vật.Nỗi đau quằn quại, vật vã của người mẹ được ví như miếng vỏ bạch dương hơ qua lửa, tất cả đều biến sắc, biến dạng. Trong cơn đau miệng của người mẹ như “bè ra”, “méo xệch”, khuôn mặt đỏ bầm căng bự lên, biến dạng trông không còn ra mặt người nữa, “đôi môi tím bầm mím chặt lại, bọt sùi hai bên mép”, để đứa bé ra đời nỗi đau mà bà mẹ phải trải qua càng tăng thêm gấp bội, bà không còn đủ sức mà kêu gào, mà cũng không còn kiềm giữ được nữa bà mỏi mệt và nó được mô tả khi bà chỉ còn thốt lên những tiếng rên khò khè, những tiếng thở dữ dội khác thường,nào tiếng rống tiếng gầm như một con thú dữ. Và hơn tất cả nỗi đau được thể hiện đặc biệt qua đôi mắt của người mẹ. Đôi mắt ấy không còn trong xanh, hiền hòa nữa mà thay vào đó thì mắt bà khi trợn ngược, khi lại lồi lên như muốn nổ tung, có lúc lại dại khờ chạy đầy những tia máu, rồi cũng cùng đôi mắt ấy sóng sánh những giọt nước mắt, tuôn ra những giọt nước mắt của nỗi đau vô cùng. Tất cả nhưng chi tiết hiện thực đó như làm hiện ra trước mắt người đọc một nỗi đau như tan xương xẻ thịt, một nỗi đau đớn đến tột cùng của người mẹ.
         Khi người con ra đời sự đau đớn về thể xác dàn mất đi nhưng người mẹ lại xuất hiện thêm một nỗi đau khác đó là nỗi đau về tinh thần, Xã hội Nga lúc đó bây giờ đang giao thời đứng trước cái mới và cái cũ, con người không biết phải lựa chọ như thế nào, cuộc sông Nga đang đầy những khó khăn,đến bản thân người mẹ con phải phiêu bạt đến nơi khác để nuôi sống mình giờ có thêm đứa con nhỏ, rồi số phận của hai mẹ con sẽ ra sao, học sẽ đi đâu và về đâu, tương lai trước mắt của họ luôn xa vời và mờ mịt họ chỉ còn một cách là luôn tin vào đức tối cao, tin và cha chúa.
          Dụng ý nghệ thuật của tác giả lần lượt lột tả các giai đoạn của quá trình sinh nở làm nổi bật cái đau đớn tột cùng của người mẹ qua đó thể hiện nhiều ý nghĩa khác nhau: để thực hiện thiên chức vẻ vang của mình, người phụ nữ đã trở thành người anh hùng, khẳng định cái khó khăn gian khổ trong sự sáng tạo đặc biệt của con người – của người phụ nữ: sáng tạo ra con người.
3.Nhân vật “Tôi” trong truyện ngắn “Một con người ra đời”:
       Trong truyện tác giả, hay cũng chính là nhân vật chàng trai trẻ xưng tôi để kể lại câu chuyện. Điều này tạo nên sự tin tưởng và tính chân thực cho câu chuyện, người đọc, người nghe như tận mắt chứng kiến được cả câu chuyện.điều này cũng giúp cho độc giả dễ dàng đồng cảm với nhân vật người phụ nữ và nhân vật tôi.
      Nhân vật”tôi” trong tác phẩm hiện lên là một chàng thanh niên trẻ tuổi với những nét tính cách đẹp, đáng trân trọng như tốt bụng, tháo vát, hóm hỉnh và sẵn sàng giúp đỡ người khác. Thực sự, việc đỡ đẻ là một công việc vô cùng khó khăn, vất vả và đòi hỏi kinh nghiệm và một sự chịu khó,thông cảm rất lớn. Tuy nhiên, lúc này chàng thanh niên 24 tuổi chưa lấy vợ, đặc biệt là chưa hề một lần làm cái công việc này lại có thể cùng người phụ nữ kia “vượt cạn” một cách an toàn. Nếu không phải xuất phát từ bản chất tốt đẹp trong nhân cách ắt hẳn con người này không thể nào làm được chuyện khó khăn như thế. Chỉ nghe một tiếng rên khe khẽ anh đã thấy “xao động”, thân thiết, “ruột rà”. Mặc cho người đàn bà xua đuổi, chửi bới; vượt qua sự ngượng nghịu, luống cuống, anh “xông” vào đỡ đẻ chỉ vì “thương chị quá chừng”, cho dù hiểu biết của chàng trai về “cái khoản này” có được là bao.
       Thực sự nhân vật”tôi” là một chàng trai tốt bụng và vô cùng hóm hỉnh, anh ta hiểu rõ tại sao người phụ nữ lại xua đuổi, chửi bới anh ta như vậy nên anh ta không những tiếp tục giúp đỡ mà còn giúp chị ta thoải mái tinh thần hơn. Thử hỏi nếu trong trường hợp này không phải là chàng trai trẻ mà là một người khác liệu rằng họ có sẵn sàng giúp đỡ chị ta sinh con? Chính những hành động đó làm tôn vinh lên nhân vật “tôi” với những nét tính cách tốt đẹp đáng trân trọng.
        Và khi đã bế trên tay một con người, mắt anh nhoà lệ, rồi nhìn nó mà cười lớn “Rất mừng được gặp chú bé”. Niềm hân hoan đến trào nước mắt của chàng trai khi chào đón một con người cũng là âm hưởng chủ đạo mà Măcxim Gorki muốn tấu lên trong “bản trường ca” về con người này : “Cao cả thay cái chức vị làm người trên trái đất”.
         Nhân vật “tôi” đã cùng người đàn bà trải qua những giây phút vô cùng khó khăn và đau đớn nhưng cũng rất thiêng liêng của người phụ nữ. Chính vì thế anh ta có những chiêm nghiệm rất sâu sắc về con  người. Anh ta vui mừng, hạnh phúc vì một con người ra đời, một sinh linh bé bỏng đã khẳng định sự có mặt trên thế gian. Có thể nói anh ta có một tâm hồn rất mực cao đẹp, biết cảm thông và chia sẻ voeis nỗi đau cũng như niềm vui của đồng loại.
         Đứa bé ra đời anh ta vui mừng say mê đến độ: Mải mê ngắm chú bé đỏ hỏn mà chàng trai “quên khuấy đi những việc còn phải làm” đến mức người mẹ phải giục “Cắt đi...Lấy dao...mà cắt” nhưng nụ cười rạng rỡ, đôi mắt ánh lên niềm vui khôn tả xiết của người mẹ thì anh “thấy rất rõ”. Anh thấy “ngọn lửa xanh biếc” trong đôi mắt sâu thẳm, “đôi mắt thần thánh” của người sản phụ. Nụ cười đẹp đẽ, chói lọi của chị làm anh loá mắt. Có ý kiến cho rằng: nhà văn đã đem hết tình thương và vốn từ ngữ giàu có của mình để ca ngợi niềm vui sướng hạnh phúc của người mẹ trẻ lần đầu tiên sinh nở được một đứa con yêu quý. Niềm vui ấy không chỉ lây lan sang chàng trai khiến anh không dưới 7 lần phải nhắc đi nhắc lại vẻ đẹp của đôi mắt và nụ cười người sản phụ khi vừa trải qua một cuộc vượt cạn đầy gian khó và đã “mẹ tròn con vuông”. Nếu không phải là người biết cảm thông chia sẻ ắt hẳn chàng trai trẻ sẽ không thể thấu hiểu và cảm nhận niềm hạnh phúc vô bờ đó của bà mẹ. Anh ta phát hiện ra và đồng điệu cùng niềm vui trong ánh mắt đẹp tuyệt vời ấy. Nhân vật”tôi” không những có lòng nhân ái sâu sắc mà anh ta còn có một tâm hồn nhạy cảm và vô cùng tinh tế.
 Niềm vui ấy còn lan toả vào cả thiên nhiên xung quanh: bầu trời xanh biếc, lá thu vàng rực, biển vỗ ì ầm, sóng lao xao, mặt trời rọi nắng chói lọi. Phải chăng thiên nhiên cũng mừng vui chào đón sự ra đời của đứa trẻ, chia sẻ niềm hạnh phúc lớn lao với người mẹ. Không phải ngẫu nhiên mà câu chuyện một con người ra đời được đặt trên phông nền là bức tranh thiên nhiên Nga tráng lệ, kì vĩ.
Lòng trân trọng, tin yêu vô bờ bến của Gorki đối với con người là không thể đo đếm. Vì thế, ông đã nâng việc sinh nở tự nhiên, bình thường thành Sự sáng tạo thiêng liêng, người mẹ thành Tạo hoá và đứa bé sơ sinh – công trình của Tạo hóa - một con người. Ý tưởng ấy giúp ta gợi nhớ những lời lẽ, vần thơ cao đẹp mà nhân loại dành cho người mẹ: Người mẹ chính là Đấng sáng tạo ra cả anh hùng và nhà thơ, hay như “Không có mặt trời hoa hồng không nở. Không có phụ nữ không có tình yêu. Không có tình yêu không có hạnh phúc. Không có người mẹ không có anh hùng”(Klapin). Bernard Shaw cũng nói rằng: “Thế giới không có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt phẩm nhất là trái tim người mẹ”.
    => Kết luận:  Quả thực, qua lời kể của nhân vật “tôi” trong tác phẩm, với ngòi bút kể chuyện độc đáo của Gorky thì con người ra đời đã trở thành sự sáng tạo thiêng liêng. Thiên truyện như một bài ca với âm hưởng ngợi ca sự vĩ đại của đấng sinh thành. Qua đó, Gorky cũng gửi gắm suy nghĩ của mình về một vấn đề bức xúc của nhân loại muôn đời: con người và số phận của nó trong tương lai. Ngòi bút giàu tính nhân đạo thể hiện sự cảm thông, thương yêu, trân trọng và tin tưởng mãnh liệt ở con người.
 4. Quan niệm về con người của M.Gorky qua “Một Con Người ra đời”.
-Những con người “nhỏ bé” có số phận bất hạnh, khổ cực trong xã hội rối ren với chiến tranh và nạn đói.
-Viết về con người nhỏ bé trong văn học không phải Macxim Gorki mới là người đầu tiên. Trong văn học truyền thống Puskin là người khơi đầu với “Người trưởng trạm” tiếp đó là Gogon với “Chiếc áo khoác”, Dotoiepxki với “Những kẻ tủi nhục” Sờ - khốp với “Người trong bao” “Vanka”. Macxim Gorki đã tiếp nối truyền thống đó với “một con người ra đời”.
-Cơ sở của truyện dựa trên sự việc có thật xảy ra với chính tác giả vào cuối mùa hè năm 1892 - một năm đói kém – khi ông đang làm việc tại công trường Kapkaz. Từ đó cho thấy số phận bất hạnh, bần cùng của người dân Nga và sự đồng cảm của tác giả với chính số phận của nhân vật, của nhà văn và nhân dân Nga lúc đó.
- Những con người ấy luôn phải vượt lên trên số phận, vượt lên khó khăn đói khổ để hướng đến một cuộc sống mới hy vọng với nhiều điều tốt đẹp sẽ đến.
     + Để thể hiện nỗi đau sinh đẻ của người mẹ, tác giả đã tập trung miêu tả cơn đau “đôi môi tím bầm”, “tiếng thở dữ dội”, tiếng gầm gừ”…Và đến khi đứa con ra đời là niềm vui niềm hạnh phúc của người mẹ, lúc này như mọi đau khổ mắc dù đang hiện hữu nhưng mọi sự đau khổ ấy đã được xóa tan khi nghe tiếng khóc chào đời của con.
    + Mặc dù người mẹ đang trong hoàn cảnh khổ cực, đang đi tha hương, đứa con sinh ra khi không có người than bên cạnh nhưng những người xa lạ bên cạnh với lòng tốt của mình họ đã giúp đỡ người mẹ. Đứa bé ra đời là hy vọng cho một tương lai mới một cuộc sống mới.
- Quan điểm nhân văn, nhân đạo sâu sắc, đó là niềm tin vào con người, tình yêu đất nước Nga, biết trân trọng giá trị của con người.
+ Macxim Gorki là nhà văn trưởng thành từ trong lao động, từ cuộc đời nghèo khổ. Trường học lớn nhất của ông chính là cuộc đời – với ông đó mới là trường học chân chính nhất. Macxim Gorki đã phải làm đủ mọi nghề để kiếm sống và tồn tại. Bàn chân ông đã từng đi đến mọi nới trên đất nước Nga tiếp xúc với đủ mọi hạng người mà đặc biệt là những người nghèo khổ. Vì thế nhà văn luôn thấu hiểu và đặc biệt cảm thông sâu sắc với tầng lớp nhân dân lao động. Nhà văn luôn dành cho họ niềm ưu ái, niềm đồng cảm như những người cùng cảnh ngộ.
+ Câu chuyện kể về một người mẹ, trên đường đi kiếm việc làm (trước đó đi đắp đường ở Xukhum nay đến Otsemtsiry tìm việc) nhờ có “tôi” giúp đỡ đã sinh hạ “mẹ tròn con vuông” ra một “công dân Oren”. Đó là câu chuyện về “một đứa trẻ ra đời” hay “Một hài nhi chào đời”. Nhưng đối với Macxim Gorki thì không phải vậy, mà phải là “Một con người ra đời”. Đối với nhà văn, hài nhi kia cũng là Một con người theo nghĩa cao cả đích thực của hai chữ CON NGƯỜI viết hoa. Tên truyện cũng phần nào hé mở tư tưởng tác phẩm. Các chi tiết trong câu chuyện đều là những sự khác thường nhưng đều nhằm mục đích nổi bật tư tưởng cao đẹp về con người.
+ Trong tác phẩm ông không chỉ nhìn thấy cái khốn khổ của họ, đồng cảm và thương xót họ mà nhà văn còn đồng cảm với những cuộc đời khốn khổ, tăm tối ấy, bằng lòng khi cái đói miếng ăn đè nặng lên, họ bất chấp mọi cách để sống, để tồn tại thì còn gì trong tâm hồn ấy nữa. Tất cả chỉ còn là sự lăn xả vào miếng ăn, ý thức nhân phẩm ý thức về cuộc sống đã hoàn toàn lụi tắt trong họ.
+ Việc tác giả miêu tả chi tiết “không bỏ sót một điều gì trong toàn bộ quá trình sinh nở của người mẹ: đau đẻ, trở dạ, cắt rốn, chờ nhau”( Nguyễn Hải Hà) của người mẹ cho đến khi đứa bé chào đời cho thấy thái độ tôn trọng của tác giả với con người, ông trân trọng giá trị của con người coi đó là một điều vô cùng thiêng liêng và cao đẹp, là món quà mà thượng đế ban cho thế gian.
+ Đứa bé ra đời  như một công trình của tạo hóa, mang theo bao khát vọng và mong ước. Đứa con của một người mẹ Nga bình thường đã được đón nhận bằng tất cả niềm hân hoan của một tâm hồn luôn biết trân trọng những giá trị của con người.

- Băn khoăn về con người và số phận của nó trong tương lai
+ Trước những băn khoăn của người mẹ: “Chẳng biết đời nó sẽ ra sao? Anh đã giúp tôi thật cảm ơn anh…Còn điều đó có tốt lành cho nó hay không tôi cũng chẳng biết nữa”. Ông khảng định:”Người dân mới của đất nước Nga, con người mà số phận chưa ai lường trước được”sẽ có thể xứng đáng với  “chức phận cao cả. chức phận làm người trên mặt đất”
+ Số phận không chỉ là lo âu, nhiều hơn đó chính là tin tưởng. Nghe tiếng khóc “Ya! Ya!”, ông coi đó là tuyên ngôn là khảng định đầu tiên cho sự có mặt của con người trên trái đất. Tiếng khóc chào đời của chú bé Oren như khẳng định mạnh mẽ sự hiện hữucủa con người giữa thế gian. Cùng niềm hân hoan về sự có mặtcủa chú bé là những suy nghĩ về sự tồn tại của con người, trong một cuộc sống tồn đọng bao điều nghiệt ngã. Con người phải vượt lên số phận.
+ Tác giả cổ vũ con người: Phải tự đứng lên tự khảng định mình, con người phải tự quyết định số phận của mình.
=> Người mẹ cũng như nhà văn đều băn khoăn về tương lai của đứa trẻ khi hiện tại là bao chông gai, là lang thang, đói khổ. Nhưng họ cùng có chung một mong ước về tương lai tốt đẹp cho chú bé, cho con người, mong ước con mình, mong ước con người được sống khoẻ khoắn, sung sướng trong tự do.Từ đó cho thấy giá trị nhân văn cao cả của tác phẩm, tư tưởng của M.Gorki: TẤT CẢ Ở TRONG CON NGƯỜI, TẤT CẢ VÌ CON NGƯỜI!        
III. TỔNG KẾT:
        Một con người ra đời được xem là một trong những tác phẩm “trung tâm” trong toàn bộ sáng tạo của nhà văn. Nó biểu hiện rực rỡ chủ nghĩa nhân đạo của Gorki: cảm thông, yêu thương, trân trọng và tin tưởng mãnh liệt ở con người.
        Về mặt nghệ thuật, truyện cũng thể hiện khá rõ tài năng truyện ngắn bậc thầy của tác giả. Hai bút pháp hiện thực và lãng mạn được vận dụng trong sự kết hợp nhuần nhuyễn. Các phương tiện nghệ thuật: phong cảnh, lời nhân vật, chi tiết ngoại hình, lời trần thuật...được sử dụng điêu luyện. Thủ pháp tương phản, đặc tả, nhấn mạnh...được phát huy tới hiệu xuất tối đa của chúng.
                                TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Đỗ Hải Phong (chủ biên), Hà Thị Hòa, Giáo trình Văn học Nga, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015.
2.Hà Thị Hòa, Văn học Nga trong nhà trường, NXB Giáo dục, 2009.
4.Nhiều tác giả, Lịch sử văn học Nga, NXB Giáo dục, 2008.

5.Tuyển tập truyện ngắn Macxim Gorki, NXB Văn học, 2012.